BÁC HỒ KÍNH YÊU

Phật

Phật Bà Quan Âm

TÀI NGUYÊN

THÀNH VIÊN TRƯC TUYẾN

0 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

12_SWF.swf Ho_tren_nui.swf BacHo.swf 4dc4db4e_3ce70b69_dd7d9a54.gif Bac1.png Nenbac_thieunhi.swf LoiHayYDep05.jpg 44456.jpg Covernewyear.jpg Ch_Tam_hoa_sen__40x60.jpg Chu_nhan_1.jpg Image_resize1php.gif Chu_Nhan.jpg 1151058_10151733735861166_77349712_n.jpg 4c74b406_4cd0fb45_tamthanh.gif Thumb_548_SakyamuniBuddha021.jpg Amitabha301.jpg A.swf Thumb_548_SakyamuniBuddha02.jpg Picture17.jpg

LỜI HAY Ý ĐẸP

ĐÔNG HỒ THIẾU NỮ

THỐNG KÊ

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • ĐĂNG

    SEN HỒNG

    THỜI TIẾT TRONG NGÀY

    LÀO CAI
    HÀ NỘI
    HUẾ
    TP HCM

    Lich Âm Dương

    BỂ CÁ CẢNH

    SEN HÒNG

    Chào mừng quý vị đến với website UNMX - Trangkhuyet28

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đức Phật của chúng ta

    Thumb_548_SakyamuniBuddha021.jpg
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Tuyết Mai
    Ngày gửi: 17h:51' 14-08-2013
    Dung lượng: 49.8 KB
    Số lượt tải: 0
    Mô tả:

     ĐỨC PHẬT CỦA CHÚNG TA

    I. Đức Phật với mục đích duy nhât cứu khổ, độ sinh

    Đức Phật, dầu ở trong cung điện, thụ hưởng nhiều dục lạc, nhưng Ngài thấy được sự đau khổ sinh, lão, bệnh, tử đè nặng trên kiếp sống con người. Nên Ngài đã từ bỏ ngai vàng, xuất gia, tìm cho được phương pháp cứu khổ cho loài người, cho chúng sinh. Kinh Thánh Cầu (số 26, Trung Bộ Kinh I, 163) nêu rõ: "Chưa thành Chánh Đẳng Giác, khi còn là Bồ tát, Ta tự mình bị sinh. Sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sinh, hãy tìm cầu cái không sinh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn;tự mình bị già... tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị uế nhiễm... Sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già... bị bệnh... bị chết... bị sầu... Sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị uế nhiễm, hãy tìm cầu cái không uế nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết Bàn". Khi Ngài thành Đạo, dưới cây bồ đề, tức là Ngài đã tìm ra được pháp môn, giúp Ngài đoạn trừ được sự đau khổ về sinh, già, bệnh, chết. Trong đó Ngài thuyết pháp độ sinh, tức là Ngài thuyết pháp môn cứu khổ, mà Ngài đã chứng ngộ, chỉ vì mục đích trừ khổ, đem lại an lạc cho chúng sinh. Trọn đời Ngài, từ khi xuất gia, cho đến khi nhập Niết Bàn, Ngài không bao giờ quên mục đích cứu khổ, độ sinh của Ngài. Lời dạy sau này làm nổi bật tâm trạng của một bậc Đạo sư canh cánh bên lòng trách nhiệm cứu khổ độ sinh của Ngài: "Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ (Trung Bộ Kinh I, 140)". Lời dạy này đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần, trong kinh điển của Ngài.

    Ngài được diễn tả như một bậc Đạo sư, luôn luôn đem lại hạnh phúc, an lạc cho chúng sinh: "Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sinh ra ở đời, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người (Trung Bộ Kinh I, 83)". Tôn giả Udàyi trong khi Thiền tịnh độc cư, nói lên lời tán thán đức Phật: “Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều khổ pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã mang lại nhiều lạc pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đoạn trừ nhiều bất thiện pháp cho chúng ta. Thế Tôn thật sự là vị đã đem lại nhiều thiện pháp cho chúng ta (Trung Bộ Kinh II, 448A)". Lời khích lệ của đức Phật cho 60 vị A-la-hán đầu tiên, khuyên du hành để thuyết pháp độ sanh, nói lên tâm nguyện từ bi cứu khổ, độ sinh của Ngài: "Này các Tỳ kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người (Tương Ưng Bộ Kinh I, 128)". Một lời tuyên bố nữa, rất đặc biệt của Ngài, nói lên thái độ không tranh chấp hơn thua của Ngài đối với bất cứ một ai. Ngài thuyết pháp chỉ với mục đích duy nhất là làm vơi nhẹ sự đau khổ của mọi loài chúng sinh: "Này các Tỳ kheo, Ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với Ta. Này các Tỳ kheo, người nói pháp không tranh chấp với một ai ở đời"(Tương Ưng Bộ Kinh III, 165). Do vậy, hình ảnh bậc Đạo sư của chúng ta là hình ảnh của một vị luôn luôn ung dung tự tại, không âu lo, không sợ hãi, không phiền não, ngày đêm chỉ nuôi dưỡng lòng từ, thương xót chúng sinh, như đã được diễn tả trong bài kệ sau đây:

     

    "Khi thức không âu lo,
    Khi ngủ chẳng sợ hãi,
    Ngày đêm không khởi lên,
    Phiền não bận lòng Ta.
    Ta không thấy tai hại
    Một chỗ nào trên đời.
    Do vậy Ta nằm ngủ,
    Tâm từ thương chúng sinh." (TƯBK I, 136)

    Như vậy, Từ bi cứu khổ chúng sinh là động lực chính khiến Ngài xuất gia, tầm đạo, chứng đạo và thuyết pháp là sợi chỉ đỏ thông suốt qua đời Ngài từ khi Đản sinh đến nhập Niết Bàn, là cốt lõi của 45 năm hoằng hóa độ sinh. Và cũng vì vậy, đức Phật của chúng ta được tôn xưng là đức Từ Phụ, vị cha lành muôn thuở, và đạo Ngài được đề cao là đạo Từ bi cứu khổ.

    II. Ngang qua kinh nghiệm bản thân, Ngài tìm ra con đường giải thoát cho mình và cho mọi người.

    Đức Phật là vị Đạo sư đã tự mình tìm ra được pháp môn giải thoát ngang qua kinh nghiệm bản thân, không có ai truyền dạy cho Ngài, không có ai ban phép cho Ngài, không phải do thần khởi, cũng không phải là hiện thân hay hóa thân của một đấng thần linh nào. Ngài là một người như chúng ta, nhưng chính nhờ tự lực cá nhân, tìm ra được con đường giải thoát.

     

    Sau đây, là những kinh nghiệm được ghi lại về đời sống đầy dục lạc, khi đức Phật còn là Thái tử, thái độ đức Phật đối với vấn đề sinh, lão, bệnh, tử và đối với ba sự kiêu mạn của tuổi trẻ, không bệnh và của sự sống:

    "Này các Tỳ kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, tối thắng nuôi dưỡng tế nhị, cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị. Này các Tỳ kheo, trong nhà Vương phụ Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng. Tất cả phục vụ cho Ta. Không một chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỳ kheo, là không từ Kàsi đến. Bằng vải Kàsi là áo cánh, bằng vải Kàsi là nội y, bằng vải Kàsi là thượng y. Đêm và ngày một lọng trắng được che chở cho Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ, hay sương. Này các Tỳ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cho mùa đông, một cho mùa hạ, một cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỳ kheo, tại lâu đài mùa mưa, trong 4 tháng, được những nữ nhạc công đoanh vây, Ta không có xuống lầu. Với Ta, này các Tỳ kheo, được đầy đủ về sự giàu sang như vậy, được cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị như vậy, Ta suy nghĩ rằng: "Kẻ phàm phu ít nghe tự mình bị già, không vượt qua khỏi già, khi thấy người khác bị già, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy: "Ta cũng bị già, không vượt qua khỏi già, khi thấy người khác già, Ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy thật không xứng đáng cho Ta". Sau khi quán sát về Ta như vậy, này các Tỳ kheo, sự kiêu mạn của tuổi trẻ trong tuổi trẻ được đoạn trừ hoàn toàn. Kẻ phàm phu ít nghe tự mình bị bệnh, không vượt qua khỏi bệnh, khi thấy người khác bị bệnh, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy: "Ta cũng bị bệnh, không vượt qua khỏi bệnh, khi thấy người khác bệnh, Ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy thật không xứng đáng cho Ta". Sau khi quán sát về Ta như vậy, này các Tỳ kheo, sự kiêu mạn của không bệnh trong không bệnh được đoạn trừ hoàn toàn. Kẻ phàm phu ít nghe tự mình bị chết, không vượt khỏi chết, thấy người khác bị chết, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy: "Ta cũng bị chết, không vượt qua khỏi chết, khi thấy người khác bị chết, ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy thật không xứng đáng cho ta”. Sau khi quán sát về ta như vậy này các Tỳ kheo, sự kiêu mạn của sự sống trong sự sống được đoạn trừ hoàn toàn" (Tăng Chi Bộ Kinh I, 162-163)".

    Ở đoạn kinh trên, chúng ta thấy rõ đức Phật của chúng ta khi còn làm Thái tử, được hưởng thụ dục lạc ở đời không để các dục lạc ấy làm cho say đắm si mê, vẫn ý thức được rằng sanh, già, bệnh, chết vẫn đang đè nặng trên kiếp sống của con người, và nhờ vậy đoạn trừ được ba sự kiêu mạn: kiêu mạn của tuổi trẻ trong tuổi trẻ, kiêu mạn của không bệnh trong không bệnh, kiêu mạn của sự sống trong sự sống.

    Chính nhờ ở kinh nghiệm bản thân về những dục lạc ở đời, chính nhờ quan sát sáng suốt về thực trạng của già, bệnh, chết của chính mình và tất cả mọi người, nên đức Phật của chúng ta vượt qua sự kiêu mạn của tuổi trẻ, của không bệnh, của sự sống, để sau này từ bỏ tất cả, xuất gia tu đạo.

    Khi Ngài quyết định từ bỏ ngai vàng, châu báu, vợ đẹp, con thơ, tầm đạo giải thoát, chúng ta được nghe đức Phật kể qua sự học đạo của Ngài với Alàra Kàlama và Udaka Ràmaputta, hai vị ngoại đạo sư nổi tiếng thời bấy giờ, và sau này, là kinh nghiệm bản thân của đức Phật, khi học đạo với Alàra Kàlama như kinh Thánh Cầu (Trung Bộ Kinh I, 164B) đã khéo chép: "Này các Tỳ kheo, rồi Ta đi đến chỗ Alàra Kàlama ở, sau khi đến, Ta nói với Alàra Kàlama: "Hiền giả Kàlama, cho đến mức độ nào, ngài tự tu, tự chứng, tự đạt và tuyên bố pháp này?" Này các Tỳ kheo, được nói như vậy, Alàra Kàlama tuyên bố về vô sở hữu xứ. Rồi này các Tỳ kheo, Ta suy nghĩ: "Không phải chỉ Alàra Kàlama có lòng tin, Ta cũng có lòng tin; không phải chỉ Alàra Kàlama tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn; không phải chỉ Alàra Kàlama có niệm, Ta cũng có niệm; không phải chỉ Alàra Kàlama có định, Ta cũng có định; không phải chỉ Alàra Kàlama có tuệ, Ta cũng có tuệ. Vậy Ta hãy cố gắng chứng cho được pháp mà Alàra Kàlama, sau khi tự tri, tự chứng, tự đạt, đã tuyên bố". Rồi này các Tỳ kheo, không bao lâu, Ta tự tri, tự chứng, tự đạt pháp ấy một cách mau chóng, Ta an trú. Này các Tỳ kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến nhàm chán, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết Bàn, mà chỉ đưa đến chứng đạt vô sở hữu xứ”. Như vậy, này các Tỳ kheo, Ta không tôn kính pháp ấy và nhàm chán pháp ấy, Ta bỏ đi.”

    Tiếp đến là nếp sống khổ hạnh, đức Phật tự mình hành trì luôn trong 6 năm, dựa trên kinh nghiệm bản thân của Ngài. Đoạn văn sau đây diễn tả hạnh ăn ít của Ngài, chính hạnh này khiến Thế Tôn gầy mòn, chỉ còn da bọc lấy xương như đã được diễn tả trong các bức tượng Tuyết sơn, khắc ghi lại sự khổ hạnh đặc biệt của đức Thế Tôn:

    "Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ, hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống của Ta phô bày giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt; giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí đắng màu trắng cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn”. "Này Sàriputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ da bụng", chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sàriputta, da bụng của Ta đến bám chặt lấy xương sống. Này Sàriputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện”, hay “đi tiểu tiện”, thì Ta ngã gục, úp mặt xuống đất. Vì Ta ăn quá ít, này Sàriputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục, rụng khỏi thân Ta". (Kinh Sử Tử Hống, Trung Bộ Kinh I, 80).

    Đức Phật của chúng ta đã tự mình hành trì khổ hạnh, và sáu năm hành trì không có kết quả, Ngài cương quyết từ bỏ khổ hạnh và bắt đầu hướng đến hành Thiền, như đoạn kinh sau nêu rõ: "Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: Ta biết trong khi phụ thân Ta thuộc dòng dõi Sakka đang cày, và Ta đang ngồi dưới bóng mát, dưới cây Diêm Phù Đề, Ta ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ." Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này, có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Aggivessana, tiếp theo niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”. (Trung Bộ Kinh I, 240B).

    Từ kinh nghiệm bản thân này, đức Phật từ bỏ khổ hạnh, hành trì Thiền định, chứng được Thiền thứ nhất, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba, Thiền thứ tư, chứng được Túc mạng minh, Thiên nhãn minh.

    Đức Phật dạy tiếp: "Và với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như vậy, Ta hướng tâm đến lậu tận trí. Ta biết như thật: "Đây là Khổ"; Ta biết như thật: "Đây là Khổ tập"; Ta biết như thật: "Đây là Khổ diệt"; Ta biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến khổ diệt". Ta biết như thật: "Đây là các lậu hoặc"; Ta biết như thật: "Đây là lậu hoặc tập khởi"; Ta biết như thật: "Đây là sựdiệt trừcác lậu hoặc"; Ta biết như thật: "Đây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt”. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Ta biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm. Không còn trở lui trạng thái này nữa." (Trung Bộ Kinh I, 248).

    Như vậy, cũng với kinh nghiệm bản thân, từ bỏ khổ hạnh, tu tập Thiền định, phát triển trí tuệ, bậc Đạo Sư của chúng ta thành tựu Chánh Đẳng Giác và trở thành đức Phật. Ở đây, chúng ta thấy rõ, bậc Đạo Sư không nhờ một đấng thần linh nào mách bảo, hộ trì, hướng dẫn. Hoàn toàn do kinh nghiệm bản thân, do tự lực cá nhân, Ngài đã tự mình tìm được con đường giải thoát, tự mình thực hành con đường ấy để được giải thoát và giảng dạy lại cho chúng ta con đường tự lực tự cường, đưa đến giải thoát giác ngộ. Chúng ta có thể nói, đối với các tư tường ngoại đạo đương thời, Ngài tự thân tầm học và chứng đắc. Nói đến khổ hạnh và hành Thiền, Ngài tự thân hành trì khổ hạnh và Thiền định. Nói đến giác ngộ, giải thoát, Ngài tự thân phát triển Ba minh để cuối cùng tự mình giác ngộ giải thoát. Nói một cách khác, Ngài chỉ dạy những gì Ngài đã thân kinh nghiệm và pháp môn Giới, Định, Tuệ là kết tinh của những năm tháng, tự tu, tự chứng và tự giác ngộ. Do vậy chúng ta không lạ gì khi Thế Tôn hoan nghinh lời chỉ trích phê bình của Sunakkhatta, mà Ngài xem như là phản ảnh trung thực nhất, đối với pháp Ngài giảng dạy:"Sa-môn Gotama thuyết pháp, pháp ấy tự mình tạo ra, do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm và thuyết cho một mục tiêu đặc biệt, có khả năng hướng thượng có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”. (Trung Bộ I, 69)

    III. Vị trí có một không hai của đức Phật

    Đề cập đến bậc Đạo Sư của chúng ta, chúng ta cần nhấn mạnh đến vị trí có một không hai của đức Phật, vị trí này cho chúng ta thấy không thể có một đức Phật thứ hai trong suốt hiện kiếp đức Phật tại thế.

    Tăng Chi Bộ Kinh Tập I, trang 37 ghi chép: "Sự kiện này không xảy ra, này các Tỳ kheo, không có được, trong một thế giới có hai vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, không trước không sau, xuất hiện một lần; sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỳ kheo, trong một thế giới chỉ có một vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, xuất hiện; sự kiện này có xảy ra".

     

    Như vậy chúng ta có thể nói, trong kiếp hiện tại, tại thế giới này chỉ có một đức Phật, không có hai đức Phật. Có thể có sáu đức Phật quá khứ như đức Phật Tỳ-bà-thi, đức Phật Thi-khí v.v…Nhưng thuộc vào kiếp quá khứ, không thuộc kiếp hiện tại, và có đức Phật Di-Lặc nhưng thuộc vào kiếp tương lai, không thuộc kiếp hiện tại. Như vậy vị trí của đức Phật Thích-ca Mâu-ni thật là độc nhất vô nhị, ngay trong hiện kiếp của thời đại chúng ta, và trong thế giới mà chúng ta đang sống. Từ nơi vị trí độc nhất vô nhị này, Tăng Chi Bộ kinh tập I trang 29 nói rõ thêm:

    "Một người, này các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không có đồng bạn, không có so sánh, không có tương tự, không có đối phần, không có người ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân. Một người ấy là ai? Chính là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, một người này, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một người không hai, không đồng bạn, không có so sánh, không có tương tự, không có người ngang hàng, không có ngang bằng, không có đặt ngang bằng, bậc tối thượng giữa các loài hai chân".

    Như vậy đức Phật không có một ai có thể sánh bằng, không có tương tự đưa đến một vấn đế mới, đức Phật đứng trên vị trí gì để trở thành một bậc tối thượng ở đời không ai có thể sánh bằng. Trung Bộ kinh III trang 110 nói lên địa vị tối thượng này của đức Phật:

    "Không có một vị Tỳ kheo, này Bà-la-môn, thành tựu một cách trọn vẹn, một cách đầy đủ tất cả các pháp mà Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã thành tựu. Này Bà-la-môn, Thế Tôn là bậc làm khởi dậy con đường trước đây chưa được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói, là bậc hiểu đạo, biết đạo và thiện xảo về đạo”.

    Với đoạn kinh trên, chúng ta thấy vị trí độc nhất vô nhị của đức Phật mà Ngài là vị đã làm khởi dậy, đã làm cho biết, đã nói lên con đường trước đây chưa từng được ai khám phá. Con đường ấy là gì?

    Chính là tiến trình giác ngộ giải thoát mà chính tự Ngài đầu tiên khám phá ra, tự mình tu tập con đường ấy và tự mình giác ngộ nhờ đã đi trên con đường ấy. Tiến trình ấy là một tiến trình gồm có 5 giai đoạn, bắt đầu từ Giới rồi đến Định, Tuệ, Giải thoát, và Giải thoát tri kiến. Con đường ấy đã được cô đọng một cách tuyệt diệu thành con đường Thánh mười ngành bắt đầu từ Chánh tri kiến và kết thúc bằng Chánh định, Chánh trí và Chánh giải thoát.

    Từ nơi đây chúng ta không có lấy làm lạ khi thỉnh thoảng đức Phật rống lên tiếng rống con sư tử, tiếng rống nói lên thế ưu việt của Chánh pháp, như được diễn tả trong Trung Bộ kinh, tập I, trang 63: "Này các Tỳ kheo, chỉ ở đây (tức chỉ trong Pháp và Luật do đức Phật thiết lập) là có đệ nhất Sa-môn, ở đây là có đệ nhị Sa-môn, ở đây là có đệ tam Sa-môn, ở đây là có đệ tứ Sa-môn. Các ngoại đạo khác không có Sa-môn”.

    Tiếng rống con sư tử này xác nhận rằng chỉ có tiến trình Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến, được cô đọng trong con đường Thánh mười ngành do đức Phật thiết lập mới đào tạo ra được đệ nhất Sa-môn, tức là các vị Dự lưu, các đệ nhị Sa-môn tức là các vị Nhất lai, các đệ tam Sa-môn tức là các vị Bất lai, các đệ tứ Sa-môn tức là các vị A-la-hán.

    Từ nơi lời xác chứng có tính cách quyết định dứt khoát này, chúng ta mới hiểu câu trả lời của đức Phật nói với Upaka, một du sĩ ngoại đạo đã hỏi đức Phật là ai, khi đức Phật đi từ Bồ đề đạo tràng đến vườn Lộc Uyển, để thuyết pháp cho Kiều Trần Như với bốn người bạn. Khi Upaka gặp đức Phật với các căn trong sáng, vị du sĩ ngoại đạo liền hỏi: “Các căn của Hiền giả thật sáng suốt, màu da của Hiền giả thật thanh tịnh, thật thanh khiết. Này Hiền giả, vì mục đích gì Hiền giả xuất gia? Ai là bậc Đạo Sư của Hiền giả?" Đức Phật liền trả lời vời bài kệ:

     

    "Ta không có Đạo Sư!
    Bậc như Ta không có.
    Giữa thế giới nhân thiên,
    Không có ai bằng Ta!"
    (Trung Bộ Kinh tập I, trang 171)

    Câu trả lời này khiến cho nhớ đến câu "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”,được xem là đức Phật tuyên bố khi Ngài đản sanh và đi bảy bước. Và câu này cũng được diễn theo truyền thống Pàli với lời tuyên bố, như đã được ghi trong Trường Bộ Kinh I, trang 151: "Ta là bậc Tối tôn ở đời. Ta là bậc Trưởng thượng ở đời. Ta là bậc Tối thượng ở đời. Nay là đời sống cuối cùng của Ta. Nay Ta không còn tái sanh nữa". Như vậy hai lời tuyên bố tuy từ hai truyền thống khác nhau, nhưng cùng nói lên địa vị độc tôn đức Phật. Đây không phải là lời tuyên bố ngạo mạn nhưng có thể bị hiểu lầm. Thực sự chỉ là một lời tuyên bố nói lên vị trí có một không hai của đức Phật, là một vị đã tự mình khám phá và giảng dạy đạo lý giải thoát và giác ngộ. Lời tuyên bố này cũng nói lên vị trí có một không hai của Chánh pháp, tức là tiến trình giải thoát giác ngộ Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến. Chính tiến trình này đã được đức Phật thân chứng và dạy lại cho các đệ tử Tỳ kheo, Tỳ kheo ni của Ngài tu học để được chứng quả A-la-hán như Ngài.

    Với đức Phật, tự mình đã giác ngộ, khi Ngài mới thành Chánh giác, Ngài khởi lên một tư tưởng rất khiêm tốn. "Thật là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời. Vậy Ta hãy đảnh lễ, cung kính và sống y chỉ vào Sa-môn hay Bà-la-môn ... Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa đầy đủ, làm cho đầy đủ định uẩn chưa đầy đủ ... làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa đầy đủ ... làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa đầy đủ. Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác với Giới, với Định, với Tuệ và với Giải thoát đầy đủ hơn Ta mà Ta có thể cung kính đảnh lễ và sống y chỉ. Rồi này các Tỳ kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Với Pháp này mà Ta đã chân chính giác ngộ. Ta hãy cung kính đảnh lễ và sống y chỉ Pháp ấy".

    Như vậy đức Phật với tâm tư khiêm tốn muốn tìm một Sa-môn hay Bà-la-môn để nương tựa y chỉ, nhưng cuối cùng phải nương tựa và y chỉ vào Chánh pháp. Thái độ này của đức Phật giải thích vì sao đức Phật khuyên Tôn giả Ananda chớ có sầu muộn khi đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử Phật luôn luôn có Chánh pháp lãnh đạo, có Chánh pháp làm chỗ y chỉ, có Chánh pháp làm chỗ nương tựa. Đức Phật có thể xem là vị Giáo chủ khuyên chúng ta không nên nương tựa ỷ lại cá nhân. Ngài chỉ khuyên chúng ta nên y chỉ vào Chánh pháp, nên tương tựa Chánh pháp.

    IV. Đức Phật với thần thông.

    Một vấn đề được đặt ra cho chúng ta là đức Phật có thần thông hay không? Chính đức Phật giúp chúng ta trả lời thẳng câu này, khi Ngài bị Sunakkhatta chỉ trích là không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, đức Phật xác nhận trong Đại Kinh Sư Tử Hống (Trung Bộ I, trang 69) rằng Ngài đầy đủ 4 pháp truyền thống, tức là 10 danh hiệu, Thần túc thông, Thiên nhĩ thông, và Tha tâm thông. Ngài lại đủ 10 Như Lai lực, được diễn tả như sau: “Như Lai như thật biết sự kiện có xảy ra là có xảy ra, sự kiện không xảy ra là không xảy ra. Như Lai như thật biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc sở nhân của các hạnh nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại. Như Lai như thật biết con đường đưa đến tất cả cảnh giới. Như Lai như thật biết thế giới với nhiều chủng loại sai biệt. Như Lai như thật biết chí hướng sai biệt của mọi loài hữu tình. Như Lai như thật biết các căn thượng hạ của loài Người, của các loài hữu tình. Như Lai như thật biết sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền chứng về Thiền, về Giải thoát, về Định. Như Lai nhớ đến các đời sống quá khứ, với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống và sự chết của các chúng sinh. Như Lai nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát." Như vậy Như Lai xác chứng Ngài chứng được sáu thần thông: Thần Túc thông, Thiên nhĩ thông và Lậu tận thông. Hơn nữa, Ngài còn chứng được bốn vô sở úy, tức là bốn điều không sợ hãi. Ngài đã chứng được Chánh đẳng Chánh giác. Ngài không có sợ hãi có Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, ác ma, Phạm thiên, chư Thiên và loài Người có thể đến chất vấn chỉ trích Ngài là chưa chứng được Chánh đẳng Chánh giác. Ngài đã đoạn trừ bốn lậu hoặc. Ngài không có sợ hãi có một ai có thể chất vấn, chỉ trích Ngài là những pháp được Ngài tuyên bố là chướng ngại pháp, thật sự khi thực hành là không có gì trở ngại cả. Ngài không có sợ hãi có một ai có thể chỉ trích chất vấn Ngài đúng pháp rằng Ngài thuyết giảng không đưa đến một mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng, không có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau”.

     

    Như vậy đức Phật xác chứng Ngài có được bốn pháp truyền thống, chứng được mười Như Lai lực và bốn pháp vô sở úy. Ngài có đầy đủ sáu Thần thông và hơn thế nữa. Tuy vậy, theo dõi 45 năm thuyết pháp độ sanh của Ngài, được ghi chép trong kinh tạng Pàli, chúng ta nhận thấy Ngài sử dụng Thần thông rất dè dặt, rất hạn chế. Ví dụ trong Tăng Chi I, trang 78, đức Phật có mặt ở Thắng Lâm (Jetavana), theo lời yêu cầu của chư Thiên, hiện ra ở Đông Viên (Pubbàràma). Một lần Thế Tôn trên con đường đến Kusinara, đi đến sông Hằng. Lúc bấy giờ sông Hằng tràn ngập nước đến bờ bên kia đến nỗi con quạ đứng trên bờ có thể uống nước được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để đi qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại, hay co lại cánh tay được duỗi ra biến mất từ bờ bên này và hiện ra bờ bên kia với chúng Tỳ kheo (Trường Bộ Kinh III, 89).

    Trong suốt năm tập Nikàya, kể cả hàng chục bài kinh, kinh nào cũng diễn tả đức Phật đi bộ từ làng này qua làng khác, từ thị trấn này qua thị trấn khác, trước khi vào nhà, vào tịnh xá thời lấy nước rửa chân. Có một lần đức Phật đi đến vườn Gosinga (Trung Bộ Kinh I, trang 205) để thăm Tôn giả Anuruddha, Tôn giả Nandiya và Tôn giả Kimbila, nhưng người giữ vườn không biết Ngài là đức Phật nên ngăn không cho vào. Một lần nữa, ngồi nói chuyện với Tôn giả Pukkusati suốt nửa đêm trong ngôi nhà một người thợ gốm, Pukkusati cũng không biết người đối diện là đức Phật. Trong nhiệm vụ hoằng hóa độ sinh của Ngài, chúng ta thấy đức Phật đã lựa chọn một phương pháp rất đặc biệt, như được ghi chép trong kinh Kevaddha (Trường Bộ Kinh II, trang 211). Kenvaddha yêu cầu đức Phật dạy cho Tỳ kheo hiện pháp thần thông để nhiếp phục dân chúng ở Nalanda. Thế Tôn từ chối không chấp nhận và dạy rằng trong ba pháp thần thông: Thần túc thông, Tha tâm thông, và Giáo hóa thần thong, Ngài chỉ lựa chọn Giáo hóa thần thông. Thần túc thông có thể do một loại bùa chú tên Gandhàrì tác thành. Tha tâm thông có thể do bùa chú tên Maniko tác thành nên đức Phật không có chấp nhận hai loại Thần thông này. Ngài chỉ chấp nhận giáo hóa thần thông được diễn tả như sau: “Ở đời có vị Tỳ kheo giáo hóa như sau: “Hãy suy tư như thế này, chớ suy tư như thế kia. Hãy tác ý như thế này, chớ tác ý như thế kia. Hãy từ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia". "Như vậy gọi là giáo hóa thần thông" (trang 214). Chính đức Phật đã lựa chọn giáo hóa thần thông để hóa độ chúng sinh, trong suốt 45 năm dài thuyết pháp. Lý do cũng rất dễ hiểu: Thần túc thông, Tha tâm thông do bùa chú tạo thành, vừa có hại cho người sử dụng, vừa có hại cho người chứng kiến. Còn Giáo hóa thần thông đòi hỏi người nghe phải suy gẫm, phải suy tư, phải cân nhắc nghĩa lý, rồi đem ra tự mình hành trì và cuối cùng đạt được giải thoát.

    Nói tóm lại, ngài không dùng pháp lạ để mê hoặc quần chúng, để làm chóa mắt người chứng kiến. Ngài đặt nặng vào khả năng suy tư, tìm hiểu, cân nhắc, chọn lựa, tự mình tự lực dùng Giới, dùng Định, dùng Tuệ, nghĩa là tự lực hành trì đúng quy luật giải thoát để được giải thoát, đúng quy luật giác ngộ để được giác ngộ.

    V. Thế Tôn với vị trí con người.

    Để tìm hiểu hơn nữa về bậc Đạo Sư, chúng ta cần phải ý thức rõ ràng đức Phật là ai, đức Phật đã tự diễn tả mình như thế nào, và đức Phật đã được các đệ tử của mình và các ngoại đạo đề cao như thế nào. Những tư liệu này sẽ giúp chúng ta hiểu được đức Phật rõ ràng chính xác hơn và đánh giá được những đóng góp mà bậc Đạo Sư đã đem lại cho loài Người. Một vấn đề có thể làm nhiều người thắc mắc trong quá khứ cũng như trong hiện tại là đức Phật là ai? Ngài là Thiên thần chăng, Thiên nhân chăng, là người như chúng ta chăng? Kinh Tăng Chi tập II, A, trang 51 ghi chép như sau: “Bà-la-môn Dona thấy dấu chân đức Phật có dấu bánh xe (Pháp luân) với đầy đủ tất cả chi tiết khi đức Phật đi trên con đường giữa Ukkattha và Setabbya, liền suy nghĩ đây không phải là dấu chân của loài Người, nên đến gần đức Phật và hỏi: "Có phải Ngài là vị Tiên, Ngài sẽ là Càn-thát-bà, Ngài sẽ là Dạ-xoa, Ngài sẽ là loài Người?" Với bốn câu hỏi này, đức Phật tuần tự trả lời: “Ta sẽ không phải là Tiên, Ta sẽ không phải là Càn-thát-bà, Ta sẽ không phải là Dạ-xoa, Ta không phải là Người".

    Câu trả lời làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên, và chúng ta cũng dễ hiểu, vì nếu đức Phật trả lời: “Ta sẽ là chư Thiên, hay Ta sẽ là loài Người, tức đức Phật còn phải tái sinh, còn phải sinh tử luân hồi nên đức Phật mới trả lời như thế”. Câu trả lời ấy làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên khiến phải hỏi tiếp: "Vậy sở hành của Ngài là gì, và Tôn giả sẽ là gì?" Đức Phật trả lời rất là đặc biệt:

    "Này Bà-la-môn, đối với những ai chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là chư Thiên với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, được là cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những ai chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn-thát-bà, Ta có thể là Dạ-xoa, Ta có thể là loài Người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như cây tala, được làm cho không thể hiện hữu, dược làm cho không thể sanh khởi trong tương lai".

    Như vậy tùy thuộc chúng sinh được đề cập đến, đối với những chúng sinh là chư Thiên chưa đoạn tận các lậu hoặc đức Phật có thể là chư Thiên nhưng với các lậu hoặc đã đoạn tận, không còn sanh tử luân hồi. Đối với loài Người chưa đoạn tận các lậu hoặc, đức Phật có thể là Người, nhưng là một con người đã đoạn tận các lậu hoặc. Nói một cách khác, dầu thuộc loại chúng sinh hữu tình nào đang còn có lậu hoặc, đang sanh tử luân hồi, đức Phật có thể là chúng sinh ấy, nhưng với các lậu hoặc đã đoạn tận. Chúng ta là người, đức Phật đối với chúng ta là người. Chỉ có sự sai khác, đức Ph


    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    SÁCH DANH NGÔN


    THỜI GIAN LÀ VÀNG